Bước tới nội dung

Liên đoàn bóng đá châu Đại Dương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Liên đoàn bóng đá châu Đại Dương
Oceania Football Confederation
Biểu trưng của OFC
Bản đồ các quốc gia thành viên OFC (màu vàng)
Thành lập15 tháng 11 năm 1966
LoạiTổ chức thể thao
Trụ sở chínhAuckland, New Zealand
Thành viên
11 thành viên
Chủ tịch
Lambert Maltock
Phó Chủ tịch
Thierry Ariiotima
Kapi Natto John
Lord Ve'ehala
Tổng thư ký
Franck Castillo
Websitehttp://www.oceaniafootball.com/

Liên đoàn bóng đá châu Đại Dương (tiếng Anh: Oceania Football Confederation - OFC) là một trong sáu liên đoàn bóng đá cấp châu lục thuộc FIFA. OFC có 13 thành viên, trong đó 11 thành viên chính thức và 2 thành viên liên kết không trực thuộc FIFA. Liên đoàn có nhiệm vụ phát triển môn bóng đá tại khu vực châu Đại Dương và tạo điều kiện cho các quốc gia thành viên giành quyền tham dự FIFA World Cup. Do đó, OFC có ảnh hưởng không đáng kể trong bóng đá thế giới, cả về thành tích quốc tế lẫn khả năng cung cấp cầu thủ cho các giải đấu cấp câu lạc bộ hàng đầu. OFC cũng là liên đoàn duy nhất chưa từng giành một danh hiệu quốc tế nào; thành tích cao nhất là đội tuyển Úc lọt vào trận chung kết Cúp Liên đoàn các châu lục FIFA 1997.

Năm 2006, Úc – quốc gia lớn nhất và thành công nhất của OFC khi đó – rời OFC lần thứ hai để gia nhập Liên đoàn Bóng đá châu Á (AFC), để lại New Zealand trở thành thành viên lớn nhất của OFC. Kể từ tháng 4 năm 2018, Chủ tịch OFC là Lambert Maltock. Các Phó chủ tịch gồm Thierry Ariiotima, Kapi Natto JohnLord Ve'ehala. Tổng thư ký là Franck Castillo.[1] Trụ sở chính của OFC đặt tại Auckland, New Zealand.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]
Trụ sở của OFC tại Ngahue Reserve, Auckland, New Zealand

Liên đoàn Bóng đá châu Đại Dương (OFC) được thành lập vào năm 1966 với mục đích đại diện cho các quốc gia ở khu vực Thái Bình Dương, sau khi Úc và New Zealand thất bại trong nỗ lực gia nhập Liên đoàn Bóng đá châu Á (AFC).[2][3] Ý tưởng thành lập một liên đoàn cho khu vực Thái Bình Dương lần đầu được đưa ra vào năm 1964. Đề xuất này được thúc đẩy bởi Sid Guppy thuộc Liên đoàn Bóng đá New Zealand (NZFA), Jim Bayutti thuộc Liên đoàn Bóng đá Úc và Chủ tịch vFIFA khi đó là Stanley Rous, trong đó Guppy và Bayutti đều được thôi thúc bởi việc AFC từ chối kết nạp.[4] Sau các cuộc thảo luận ban đầu được tổ chức ở Tokyo năm 1964, Charlie Dempsey – một người Scotland – đã được NZFA tiếp cận để hợp tác với Bayutti xây dựng hồ sơ xin thành lập Liên đoàn Bóng đá châu Đại Dương.[4] Hai người đã vận động đủ sự ủng hộ để hồ sơ này được Đại hội FIFA thông qua vào năm 1966. Các thành viên sáng lập OFC gồm:[5]

Đại diện New Caledonia cũng tham gia vào quá trình thành lập OFC năm 1966, nhưng khi đó New Caledonia chỉ có thể là thành viên tạm thời, vì lãnh thổ này chưa có quyền tự chủ về thể thao tách khỏi Pháp vào lúc đó.[4] Năm 1972, Úc rời OFC để một lần nữa theo đuổi việc gia nhập AFC, nhưng quay lại OFC vào năm 1978, và trong suốt thập niên 1970 họ chưa từng trở thành thành viên chính thức của AFC.[7][8] Sau khi Úc rời OFC năm 1972, Lou Gautier – từ tạp chí Soccer World của Úc – đã nhận xét: “Chúng tôi đã khẳng định ngay từ đầu rằng ý tưởng về một Liên đoàn châu Đại Dương chỉ là giấc mơ viển vông, không mang lại lợi ích thiết thực nào cho bóng đá Úc.”[9] Bayutti rời OFC năm 1970 để chuẩn bị cho kế hoạch Úc gia nhập AFC, và Charles Dempsey được bổ nhiệm làm quyền tổng thư ký OFC. Khi đó, Dempsey đồng thời giữ chức lãnh đạo Liên đoàn Bóng đá quốc gia New Zealand.[4] Ông tiếp tục giữ vai trò quyền tổng thư ký OFC trong 10 năm và được bầu làm chủ tịch vào năm 1982. Các chủ tịch trước đó gồm người New Zealand William Walkley và Jack Cowie, cùng người Úc Vic Tuting và Arthur George. Trong nhiệm kỳ của mình, Dempsey thuyết phục các quốc gia và vùng lãnh thổ Thái Bình Dương nhỏ gia nhập OFC, bao gồm Samoa (1986), Vanuatu (1988), Tahiti (1990), Tonga và Quần đảo Cook (đều vào năm 1994), và American Samoa (1998). Ông là chủ tịch OFC cuối cùng xuất thân từ New Zealand hoặc Úc; các chủ tịch sau đó đều đến từ các quốc gia khác trong khu vực Thái Bình Dương.

Đội tuyển bóng đa nam Úc (biệt danh Socceroos) là đại diện đầu tiên của khu vực thi đấu tại FIFA World Cup năm 1974, nằm cùng bảng với Chile, Đông ĐứcTây Đức. Mặc dù không ghi được bàn nào nhưng vẫn thi đấu ngang ngửa ở cả ba trận.[10] Tám năm sau, đội tuyển New Zealand (biệt danh All Whites) tham dự World Cup lần đầu tiên vào năm 1982, nhưng phải chịu những thất bại nặng nề hơn so với Úc trước đó.[11] Từ thập niên 1960 đến đầu thập niên 1980, các quốc gia thuộc OFC thi đấu cùng các đội tuyển thuộc AFC trong nhiều giải vòng loại World Cup hỗn hợp. Mãi đến vòng loại World Cup 1986, OFC mới tổ chức được một giải vòng loại riêng biệt. Trung Hoa Đài Bắc là thành viên của OFC từ năm 1975 đến 1989. Dù nằm ở khu vực phía bắc Thái Bình Dương, ngoài khơi Trung Quốc, quốc gia này gia nhập OFC vì lý do chính trị, sau đó chuyển sang AFC.[12] Israel (chưa từng là thành viên chính thức của OFC) cũng tham dự vòng loại World Cup của OFC vào các năm 19861990 vì lý do tương tự, mặc dù không nằm trong lưu vực Thái Bình Dương.[13] Trong suốt thập niên 1980 và 1990, đội tuyển Úc nhiều lần thất bại ở vòng play-off liên lục địa để giành vé dự World Cup: thua Scotland năm 1985, Argentina năm 1993 và Iran năm 1997.[14] Lần duy nhất họ không lọt vào vòng play-off trong giai đoạn này là năm 1989, khi Israel vượt qua Úc ở vòng hai vòng loại OFC, trước khi thất bại trước Colombia. Trận thua sát nút nhất của Úc tại vòng play-off liên lục địa là trước Iran năm 1997. Ở trận lượt về tại Melbourne, Úc dẫn 3–1 chung cuộc khi trận đấu bước vào giai đoạn cuối, nhưng đà thi đấu bị gián đoạn do một cổ động viên quá khích liên tục xông vào sân. Ngay sau đó, họ để thủng lưới hai bàn liên tiếp và bị loại theo luật bàn thắng sân khách. Năm 1996, FIFA công nhận OFC là một liên đoàn đầy đủ quyền hạn và trao cho OFC một ghế trong Ban điều hành FIFA.[15] Năm 1998, OFC ra mắt logo mới cùng tạp chí chính thức mang tên The Wave.

Đội tuyển quốc gia Úc từ lâu được xem là đối thủ mạnh nhất trong khu vực.[16] Trong những năm 1990 và 2000, nhiều trận đấu mà họ góp mặt đều có sự chênh lệch rõ rệt về số bàn thắng. Vòng hai vòng loại World Cup 1998 diễn ra vào tháng 6 năm 1997 chứng kiến chiến thắng 13–0 trước Quần đảo Solomon.[17] Năm tiếp theo, Úc đánh bại Quần đảo Cook 16–0 tại Cúp Bóng đá châu Đại Dương OFC 1998, và thắng 17–0 ở giải năm 2000.[18][19] Sự áp đảo này cũng diễn ra ở bóng đá nữ: tại Giải vô địch bóng đá nữ OFC 1998, đội tuyển nữ Úc (The Matildas) thắng Fiji 17–0 và Samoa thuộc Mỹ 21–0.[20] Những tỷ số chênh lệch tiếp tục tăng vào tháng 4 năm 2001, tại vòng một vòng loại World Cup 2002. Úc lần lượt thắng Tonga 22–0, Samoa thuộc Mỹ 31–0 và Samoa 11–0.[21][22] Trận thắng trước Samoa thuộc Mỹ trở thành chiến thắng đậm nhất trong lịch sử bóng đá quốc tế (vượt kỷ lục ở trận gặp Tonga),[23] đồng thời cầu thủ Archie Thompson lập kỷ lục ghi nhiều bàn thắng nhất trong một trận đấu quốc tế (13 bàn). Tuy nhiên, phong độ ấn tượng ở vòng loại đầu tiên không được tái hiện ở vòng play-off liên lục địa gặp Uruguay cùng năm. Trận lượt đi trên sân nhà, Úc thắng 1–0 trước 84.656 khán giả tại Melbourne, nhưng lượt về để thua đậm 0–3. Trận đấu này bị lu mờ bởi sự cố tại sân bay Montevideo trước giờ bóng lăn, khi các cầu thủ Úc bị một nhóm cổ động viên Uruguay tấn công và lăng mạ.[24] Ngày 24 tháng 5 năm 2004, New Caledonia trở thành thành viên thứ 12 của OFC.

Cuối năm 2005, Úc một lần nữa tiến vào trận play-off liên lục địa gặp Uruguay. Giống như năm 2001, mỗi đội giành chiến thắng một trận sau hai lượt, dẫn đến việc Úc cuối cùng chấm dứt cơn khát World Cup bằng loạt sút luân lưu kịch tính tại Sydney. Đội tuyển Socceroos được tăng cường an ninh cho trận lượt đi trên sân khách để đề phòng tái diễn sự cố tại sân bay năm 2001, và ở lượt về, đội tuyển Uruguay bị khán giả la ó dữ dội khi quốc ca của họ vang lên.[25] Tại World Cup 2006, Úc bị loại ở vòng 16 đội trước Ý - đội lên ngôi vô địch năm đó. Chiến thắng 3–1 trước Nhật Bản ở vòng bảng vẫn là lần duy nhất một đại diện của OFC giành chiến thắng tại giải đấu này. Cùng năm, Úc rời OFC để gia nhập Liên đoàn Bóng đá châu Á (AFC). Thỏa thuận gia nhập AFC được ký kết vào tháng 6 năm 2005, trước khi Úc đánh bại Uruguay để giành vé dự World Cup 2006. Thỏa thuận có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2006, mặc dù Úc vẫn chính thức đại diện cho OFC tại kỳ World Cup năm đó.

Sau khi gia nhập AFC, Úc tiến hành chiến dịch tranh quyền đăng cai World Cup 20182022, nhưng không thành công. Một trong những điểm nhấn của hồ sơ dự thầu là thực tế khu vực Nam Thái Bình Dương chưa từng tổ chức World Cup. Tháng 7 năm 2006, Chủ tịch Liên đoàn Bóng đá Úc John O'Neill phát biểu: “Khu vực duy nhất chưa từng đăng cai World Cup, sau khi Nam Phi tổ chức vào năm 2010, là lưu vực Thái Bình Dương. Chúng ta nay thuộc châu Á nhưng cũng là một phần của Thái Bình Dương, và tôi tin rằng yếu tố công bằng về việc khu vực này chưa từng đăng cai nên được tính đến có lợi cho chúng ta.”[26] Sau đó, Úc và New Zealand đồng đăng cai Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2023, dù khi đó thuộc hai liên đoàn khác nhau.[27][28][29]

Năm 2008, một thành viên liên kết là Hiệp hội Bóng đá Quần đảo Bắc Mariana cũng rời OFC và năm 2009 gia nhập AFC với tư cách thành viên liên kết. Cuối năm 2009, Liên đoàn Bóng đá Palau, dù nằm ở khu vực châu Đại Dương nhưng không có mối liên hệ chính thức nào với OFC, cũng nộp đơn xin gia nhập AFC với quy chế tương tự nhưng không thành công.[30] New Zealand chấm dứt cơn khát World Cup của mình vào năm 2009 khi đánh bại Bahrain để giành vé dự World Cup 2010. Trùng hợp là giải đấu này cũng có sự góp mặt của Úc, khi đó đã đại diện cho AFC. New Zealand là đội duy nhất bất bại tại giải, dù không vượt qua được vòng bảng.[31] Kể từ khi Úc rời OFC, New Zealand thường xuyên góp mặt ở các trận play-off liên lục địa giành vé dự World Cup. Họ để thua đậm Mexico sau hai lượt trận vào năm 2013, và bỏ lỡ cơ hội trước Peru năm 2017[32] cũng như Costa Rica năm 2022.[33][34] Ngày 24 tháng 3 năm 2025, New Zealand giành quyền dự World Cup 2026 sau khi đánh bại New Caledonia 3–0 trong trận chung kết của giải vòng loại mới của OFC, giải đấu có một suất trực tiếp cho khu vực này[35]

Tháng 11 năm 2024, OFC công bố kế hoạch tổ chức Giải OFC Professional League kéo dài năm tháng, dự kiến khởi tranh vào tháng 1 năm 2026.[36] Giải đấu khai mạc sẽ quy tụ 8 câu lạc bộ hàng đầu từ nhiều quốc gia thuộc khu vực Thái Bình Dương, trong đó có khả năng có sự góp mặt của các đội từ Úc và Hawaii (các câu lạc bộ Hawaii thông thường sẽ thi đấu dưới sự quản lý của CONCACAF do Hawaii là một phần của Hoa Kỳ). Đã có 32 câu lạc bộ công khai bày tỏ mong muốn tham dự,[37] bao gồm bốn đội đến từ Úc cùng các đội từ New Caledonia, New Zealand, Fiji, Papua New Guinea, Samoa, Quần đảo Solomon và Tahiti.[38] Các câu lạc bộ Úc gồm Marconi Stallions, South Melbourne FC và Sunshine Coast Fire — tất cả đều thi đấu ngoài khuôn khổ giải A-League của Úc, vốn được thành lập vào thời điểm Úc gia nhập AFC.[39][36][40] Các câu lạc bộ đến từ những quốc gia không thuộc OFC nếu muốn tham dự sẽ phải tự chi trả chi phí đi lại và ăn ở, và nhiều khả năng sẽ không được quyền tham dự FIFA Club World Cup ngay cả khi giành chức vô địch.[41] Giải đấu này được kỳ vọng sẽ thay thế OFC Champions League, giải đấu đã tồn tại từ năm 1987. [42][43][44]

Một câu lạc bộ New Zealand đang thi đấu tại A-League của Úc, Auckland FC, cũng bày tỏ mong muốn tham gia, với lý do là họ không thể giành quyền dự AFC Champions League ngay cả khi vô địch A-League, do New Zealand thuộc OFC.[45] Ngoài ra, hai câu lạc bộ khác của New Zealand đang thi đấu ngoài A-League — Christchurch United và Nelson Suburbs — cũng đã công khai ý định tham dự.[46] OFC đã bắt đầu quy trình tiếp nhận hồ sơ từ các câu lạc bộ quan tâm, với việc lựa chọn tám đội cuối cùng dự kiến hoàn tất vào tháng 9 năm 2025.[36][40][47] Các đội đăng ký sẽ phải chứng minh khả năng tài chính bền vững trong bốn năm và đáp ứng các tiêu chuẩn quan trọng, bao gồm yêu cầu về tài chính, thể thao, cơ sở hạ tầng, nhân sự và pháp lý.[48] Tháng 5 năm 2025, OFC xác nhận đã chọn ra 13 đội tiềm năng bước vào giai đoạn cấp phép câu lạc bộ cho vòng chung kết, trong đó có hai đội từ Úc và 11 đội từ các quốc gia thuộc OFC.

Lịch sử tóm tắt

[sửa | sửa mã nguồn]

Liên đoàn bóng đá châu Đại Dương được thành lập vào ngày 15 tháng 11 năm 1966 với các thành viên sáng lập:[49]

Úc đã rút khỏi thành viên OFC vào năm 1972 để theo đuổi tư cách thành viên của AFC nhưng thất bại, họ đã gia nhập trở lại vào năm 1978, Đài Bắc Trung Hoa là thành viên của OFC từ năm 1975 đến 1989.[50][51] Năm 1996 FIFA xác nhận OFC là một liên đoàn chính thức và được cấp một vị trí trong ban điều hành FIFA.[52]  Năm 1998, OFC đã tiết lộ một logo mới và một tạp chí chính thức mang tên The Wave. Vào ngày 24 tháng 5 năm 2004, New Caledonia trở thành thành viên thứ 12 của OFC. Vào ngày 1 tháng 1 năm 2006, Úc lại rời OFC và gia nhập Liên đoàn bóng đá châu Á. Năm 2008, một thành viên liên kết Hiệp hội bóng đá Bắc Mariana cũng rời khỏi OFC và năm 2009 gia nhập AFC với tư cách là thành viên liên kết. Vào cuối năm 2009, Hiệp hội bóng đá Palau cũng đã nộp đơn xin gia nhập AFC.[53]

Liên đoàn thành viên

[sửa | sửa mã nguồn]

OFC có 11 liên đoàn thành viên chính thức và 2 liên đoàn thành viên liên kết.[54]

Đội tuyển quốc gia

[sửa | sửa mã nguồn]
Mã FIFA Liên đoàn Đội tuyển quốc gia Thành lập Tư cách thành viên Gia nhập FIFA Gia nhập và liên kết với OFC Thành viên IOC[55] Ghi chú
ASA Samoa thuộc Mỹ Samoa thuộc Mỹ (M, W) 1984 Chính thức 1998 1998 lãnh thổ chưa hợp nhất của Hoa Kỳ
COK Quần đảo Cook Quần đảo Cook (M, W, FS, FP) 1971 Chính thức 1994 1994 liên minh tự do với New Zealand
FIJ Fiji Fiji (M, W, FS, FP) 1938 Chính thức 1964 1966
KIR Kiribati Kiribati (M, W) 1980 Liên kết Chưa gia nhập liên kết năm 2007
NCL Nouvelle-Calédonie Nouvelle-Calédonie (M, W, FS, FP) 1928 Chính thức 2004 2004 Không lãnh thổ Hải ngoại thuộc Pháp
NZL New Zealand New Zealand (M, W, FS, FP) 1891 Chính thức 1948 1966
PNG Papua New Guinea Papua New Guinea (M, W, FS) 1962 Chính thức 1966 1966
SAM Samoa Samoa (M, W, FS) 1968 Chính thức 1986 1986
SOL Quần đảo Solomon Quần đảo Solomon (M, W, FS, FP) 1979 Chính thức 1988 1988
TAH Polynésie thuộc Pháp Tahiti (M, W, FS, FP) 1989 Chính thức 1990 1990 Không lãnh thổ Hải ngoại thuộc Pháp
TGA Tonga Tonga (M, W) 1965 Chính thức 1994 1994
TUV Tuvalu Tuvalu (M, W) 1979 Liên kết Chưa gia nhập liên kết năm 2006
VAN Vanuatu Vanuatu (M, W, FS, FP) 1934 Chính thức 1988 1988

M: bóng đá nam

W: bóng đá nữ

FS: bóng đá trong nhà

FP: bóng đá bãi biển

Các cựu thành viên chính thức

[sửa | sửa mã nguồn]

Các cựu thành viên liên kết

[sửa | sửa mã nguồn]

Các quốc gia không phải thành viên của OFC

[sửa | sửa mã nguồn]

+ Một số quốc gia có chủ quyền hoặc phụ thuộc ở Châu Đại Dương có các đội tuyển quốc gia không có liên kết. Tất cả chơi không thường xuyên và có thể đã không hoạt động trong vài năm. Cũng có một số không có đội tuyển quốc gia.

+ Các quốc gia có chủ quyền và phụ thuộc với lãnh thổ ở Châu Đại Dương nhưng là thành viên của các liên đoàn khác:

Xếp hạng

[sửa | sửa mã nguồn]

Bóng đá nam (10/2022)

[sửa | sửa mã nguồn]
OFC FIFA Mã FIFA Quốc gia Điểm +/-
1 105 NZL New Zealand 1193.98 -2
2 136 SOL Quần đảo Solomon 1095.70 +1
3 159 PNG Papua New Guniea 1007.46 +2
4 161 NCL New Caledonia 995.58 -1
5 162 TAH Tahiti 995.11 0
6 163 FIJ Fiji 989.43 0
7 164 VAN Vanuaty 985.62 0
8 188 ASA Samoa thuộc Mỹ 900.27 0
9 189 COK Quần đảo Cook 899.33 0
10 191 SAM Samoa 894.26 0
11 197 TON Tonga 861.81 0

Bóng đá nữ (12/2018)

[sửa | sửa mã nguồn]
OFC FIFA Quốc gia Điểm +/-
1 19 New Zealand 1819 +1
2 49 Papua New Guinea 1479 -49
3 72 Fiji 1350 +9
4 86 Tonga 1249 -86
5 90 New Caledonia 1239 -90
6 97 Tahiti 1218 -97
7 107 Vanuatu 1161 -3
8 109 Quần đảo Cook 1159 -109
9 110 Quần đảo Solomon 1153 -5
10 113 Samoa 1130 -113
11 122 Samoa thuộc Mỹ 1047 -5

Các đời chủ tịch

[sửa | sửa mã nguồn]
STT Tên Nhận chức Kết thúc nhiệm kỳ Quốc tịch Ghi chú
1 William Walkley 1966 1970 New Zealand
2 Jack Cowie 1970 1972 New Zealand
3 Vic Tuting 1972 1972
4 Jack Cowie 1972 1978 New Zealand
5 Arthur George 1978 1982 Australia
6 Charles Dempsey 1982 2000 New Zealand
7 Johnny Tinsley Lulu 2000 2003 Vanuatu
8 Tautulu Roebuck 2003 2004 Samoa
9 Reynald Temarii 2004 2010 Tahiti
10 David Chung 2010 2011 Papua New Guinea
11 2011 2018
12 Lambert Maltock 2018 Vanuatu

Các giải thi đấu cấp đội tuyển quốc gia

[sửa | sửa mã nguồn]

Các giải thi đấu cấp câu lạc bộ

[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ xuất sắc nhất châu Đại Dương

[sửa | sửa mã nguồn]

xem Cầu thủ xuất sắc nhất châu Đại Dương Chris Wood

Các giải đấu quốc tế của nam

[sửa | sửa mã nguồn]
ĐộiUruguay
1930
Ý
1934
Pháp
1938
Brasil
1950
Thụy Sĩ
1954
Thụy Điển
1958
Chile
1962
Anh
1966
México
1970
Đức
1974
Argentina
1978
Tây Ban Nha
1982
México
1986
Ý
1990
Hoa Kỳ
1994
Pháp
1998
Hàn QuốcNhật Bản
2002
Đức
2006
Cộng hòa Nam Phi
2010
Brasil
2014
Nga
2018
Qatar
2022
Canada
Hoa Kỳ
México
2026
Bồ Đào Nha
Tây Ban Nha
Maroc
2030
Ả Rập Xê Út
2034
Tổng cộng
 Úc×××××××VBV16Đã gia nhập AFC2
 New Zealand×××××××VBVBVB3
Tổng cộng000000000101000001100015

OFC Nations Cup

[sửa | sửa mã nguồn]
Đội 1973
New Zealand
(5)
1980
Nouvelle-Calédonie
(8)
1996
(4)
1998
Úc
(6)
2000
Polynésie thuộc Pháp
(6)
2002
New Zealand
(8)
2004
Úc
(6)
2008
(4)
2012
Quần đảo Solomon
(8)
2016
Papua New Guinea
(8)
2024
Fiji
Vanuatu
(7)
Năm
 Úc H1 H1 H2 H1 H2 H1 Đã gia nhập AFC 6
 Quần đảo Cook VB VB 2
 Fiji H5 H4 H3 VB H4 H3 VB VB H4 9
 Nouvelle-Calédonie H3 H3 VB H2 H2 BK 6
 New Zealand H1 VB BK H1 H2 H1 H3 H1 H3 H1 H1 11
 Papua New Guinea VB VB VB H2 VB 5
 Samoa VB VB VB 3
 Quần đảo Solomon VB BK H3 VB H2 H4 BK VB 8
 Tahiti H2 H2 H2 H4 VB H3 H5 H1 VB H3 10
 Vanuatu H4 VB VB H4 H4 H6 H4 VB VB H2 10

Thế vận hội Mùa hè

[sửa | sửa mã nguồn]
Đội1900
Pháp
(3)
1904
Hoa Kỳ
(3)
1908
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
(6)
1912
Thụy Điển
(11)
1920
Bỉ
(14)
1924
Pháp
(22)
1928
Hà Lan
(17)
1936
Đức
(16)
1948
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
(18)
1952
Phần Lan
(25)
1956
Úc
(11)
1960
Ý
(16)
1964
Nhật Bản
(14)
1968
México
(16)
1972
Tây Đức
(16)
1976
Canada
(13)
1980
Liên Xô
(16)
1984
Hoa Kỳ
(16)
1988
Hàn Quốc
(16)
1992
Tây Ban Nha
(16)
1996
Hoa Kỳ
(16)
2000
Úc
(16)
2004
Hy Lạp
(16)
2008
Trung Quốc
(16)
2012
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
(16)
2016
Brasil
(16)
2020
Nhật Bản
(16)
2024
Pháp
(16)
2028
Hoa Kỳ
(16)
2032
Úc
(16)
Số lần
 Úc=57413157Đã gia nhập AFC 6
 Fiji 16 1
 New Zealand 14166 4
Tổng cộng (3 đội)0000000000100000001111111111 11

Pacific Games

[sửa | sửa mã nguồn]

Kì đại hội
Đội
1963 1966 1969 1971 1975 1979 1983 1987 1991 1995 1999 2003 2007 2011 2015 2019 2023 Số lần
 Samoa thuộc Mỹ P6 PPP126
 Quần đảo Cook 6 P PP85
 Fiji 24542 2131 2443314
 Guam P6 PP P5
 Kiribati 9* P P3
 Micronesia P P2
 Nouvelle-Calédonie 121124 313P2 1112116
 New Zealand U-23 12
 Niue P 1
 Quần đảo Bắc Mariana 101
 Papua New Guinea P434P9* 43PPP P34615
 Samoa 9* 5* PP75
 Quần đảo Solomon 4P633 P22P 42PP214
 Tahiti 312311 12P14 P32P516
 Tonga 7* PP PP116
 Tuvalu 7* P PPP96
 Vanuatu P352P5 P4443 3PPP416
 Wallis và Futuna P9* 5*5PP 6
Số đội
Tổng cộng: 18
6666712 1168910 10118#111216
Tổng cộng

Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới

[sửa | sửa mã nguồn]
Đội 1977
Tunisia
(16)
1979
Nhật Bản
(16)
1981
Úc
(16)
1983
México
(16)
1985
Liên Xô
(16)
1987
Chile
(16)
1989
Ả Rập Xê Út
(16)
1991
Bồ Đào Nha
(16)
1993
Úc
(16)
1995
Qatar
(16)
1997
Malaysia
(24)
1999
Nigeria
(24)
2001
Argentina
(24)
2003
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
(24)
2005
Hà Lan
(24)
2007
Canada
(24)
2009
Ai Cập
(24)
2011
Colombia
(24)
2013
Thổ Nhĩ Kỳ
(24)
2015
New Zealand
(24)
2017
Hàn Quốc
(24)
2019
Ba Lan
(24)
2023
Argentina
(24)
2025
Chile
(24)
Số lần
 Úc TKV1V1V14thH4TKV2V1V2V2V1Đã gia nhập AFC 12
 Fiji V1V1 2
 Nouvelle-Calédonie V1 1
 New Zealand V1V1V1V2V2V2V2V1 8
 Tahiti V1V1 2
 Vanuatu V1 1
Tổng cộng (5 đội)001111011111111111122222 26

Giải vô địch bóng đá U-19 châu Đại Dương

[sửa | sửa mã nguồn]
Đội Polynésie thuộc Pháp
1974
New Zealand
1978
Fiji
1980
Papua New Guinea
1982
Úc
1985
New Zealand
1986
Fiji
1988
Fiji
1990
Polynésie thuộc Pháp
1992
Fiji
1994
Polynésie thuộc Pháp
1997
Samoa
1998
Nouvelle-CalédonieQuần đảo Cook
2001
VanuatuFiji
2002
Quần đảo Solomon
2005
New Zealand
2007
Polynésie thuộc Pháp
2008
New Zealand
2011
Fiji
2013
Fiji
2014
TongaVanuatu
2016
Quần đảo CookPolynésie thuộc Pháp
2018
Polynésie thuộc Pháp
2022
SamoaVanuatu
2024
Quần đảo CookSamoa
2024
Số lần
 Samoa thuộc Mỹ ×××××××××××GS×××××GS×6thPRPRGSPRx 7
 Úc ×1st2nd1st1st1st1st1st×1st1st1st1st1st1stThành viên AFC 13
 Đài Bắc Trung Hoa ××××4th4th3rdThành viên AFC 3
 Quần đảo Cook ××××××××××××GS×××××××GSPRGSPR 5
 Fiji ×2nd3rd3rd5th5th4th5th3rdGS3rd2ndGS2nd4th2nd4th4th2nd1stGSGS2nd4thQ 24
 Israel ××××2nd2nd××Thành viên UEFA 2
 Nouvelle-Calédonie 4th×4th×××××××××GSGSGS4th2ndGS4th3rdSF3rd3rd2ndQ 15
 New Zealand 2nd3rd1st2nd3rd3rd2nd2nd1st2nd2nd3rd2ndGSGS1st3rd1st1st×1st1st1st1stQ 24
 Papua New Guinea ×4th6th4th6th×GS×5thGS××GSGS×××GS5th5thGSGSQFVB 15
 Samoa ××××××GS××GS×GSGSGSGS7th××××PRPRQFGSQ 12
 Quần đảo Solomon ×××××××××3rd×4thGS×2nd3rd×2nd×4thSF4thQF3rdQ 12
 Tahiti 1st×5th××××4th2ndGS4th×GS××5th1st×××GS2nd4thGSQ 14
 Tonga ×××××××××××GSGSGSGS×××××PRGSGSPR 8
 Vanuatu 3rd×××××GS3rd4th4th×GSGSGS3rd6th×3rd3rd2nd2ndGSQFGSQ 18

Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới

[sửa | sửa mã nguồn]
Đội 1985
Trung Quốc
(16)
1987
Canada
(16)
1989
Scotland
(16)
1991
Ý
(16)
1993
Nhật Bản
(16)
1995
Ecuador
(16)
1997
Ai Cập
(16)
1999
New Zealand
(16)
2001
Trinidad và Tobago
(16)
2003
Phần Lan
(16)
2005
Perú
(16)
2007
Hàn Quốc
(24)
2009
Nigeria
(24)
2011
México
(24)
2013
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
(24)
2015
Chile
(24)
2017
Ấn Độ
(24)
2019
Brasil
(24)
2023
Indonesia(24)
2025
Qatar(48)
2026
Qatar(48)
Số lần
 Úc TKTKV1TKTKTKH2TKV1V1Đã gia nhập AFC 10
 Fiji V1Q 2
 Nouvelle-Calédonie V1V1V1Q 4
 New Zealand V1V1V1V2V2V1V2V1V1V1V1Q 12
 Quần đảo Solomon R1 1
Tổng cộng (5 đội) 111111121111111122233 29

Giải vô địch bóng đá U-16 châu Đại Dương

[sửa | sửa mã nguồn]
ĐộiNew Zealand
1983
Đài Bắc Trung Hoa
1986
Úc
1989
New Zealand
1991
New Zealand
1993
Vanuatu
1995
New Zealand
1997
Fiji
1999
Samoa/Vanuatu
2001
Samoa thuộc Mỹ/Úc/Nouvelle-Calédonie
2003
Nouvelle-Calédonie
2005
Polynésie thuộc Pháp
2007
New Zealand
2009
New Zealand
2011
Vanuatu
2013
Samoa thuộc Mỹ/Samoa
2015
Polynésie thuộc Pháp
2017
Quần đảo Solomon
2018
Fiji
2023
Polynésie thuộc Pháp/Tonga
2024
Quần đảo Solomon/Tonga
2025
Tổng cộng
 Samoa thuộc Mỹ×××××××GSGSGS×××GSPRGSPRPRGSPRPR10
 Úc1st1st1st1st1st1st2nd1st1st1st1stThành viên AFC11
 Đài Bắc Trung Hoa3rd3rd3rdThành viên AFC3
 Quần đảo Cook××××××GSGS×GSGS××GSGSGSPRPRQFGSGS11
 FijiGSGS4th3rd4thGS4th2ndGSGSGS3rd×GS4thGSGS4th4th2nd3rd19
 Nouvelle-Calédonie4th××××××4th×2nd4th4th3rdGS2nd4th2ndGS2nd3rd2nd13
 New Zealand2nd2nd2nd2nd3rd2nd1st×2ndGS×1st1st1st1st1st1st1st1st1st1st 18
 Papua New Guinea×4th×××××GSGS×GS××GSGSGSSFGS×PR4th 10
 Samoa××××××GSGSGSGS××××PRGSGSGSQFGSGS 10
 Quần đảo Solomon××××2nd4th3rd3rdGSGS3rd××3rd×GSSF2nd×GSGS 12
 TahitiGS×××GS×GSGSGSGSGS2nd2nd2nd×2ndGS3rd3rd4thGS 15
 Tonga×××××××GSGSGSGS××GSPRGSPRPRQFPRPR 11
 Vanuatu××GS×GS3rdGSGSGSGS2nd×4th4th3rd3rdGSGSQFGSPR 16

Giải vô địch bóng đá trong nhà thế giới

[sửa | sửa mã nguồn]
Đội 1989
Hà Lan
1992
Hồng Kông
1996
Tây Ban Nha
2000
Guatemala
2004
Đài Bắc Trung Hoa
2008
Brasil
2012
Thái Lan
2016
Colombia
2020
Litva
2024
Uzbekistan
Tổng
cộng
 ÚcV1V1V1V1V15
 New ZealandV11
 Quần đảo SolomonV1V1V1V14
Tổng cộng111111111110

Giải vô địch bóng đá trong nhà châu Đại Dương

[sửa | sửa mã nguồn]
Đội Úc
1992
Vanuatu
1996
Vanuatu
1999
Úc
2004
Fiji
2008
Fiji
2009
Fiji
2010
Fiji
2011
New Zealand
2013
Nouvelle-Calédonie
2014
Fiji
2016
Nouvelle-Calédonie
2019
Fiji
2022
New Zealand
2024
Fiji
2025
Số lần
 Samoa thuộc Mỹ ××x××××××××7th×xx1
 Úc 1st1st1st1st1st5
 Quần đảo Cook ××7th××××××××××xx1
 Fiji ×3rd2nd4th5th2nd2nd5th××6th5th6th4th3rd12
 FFA President's Five 4th2
 Kiribati ×××7th×××××xx1
 Malaysia 2nd1st2
 Nouvelle-Calédonie ××××6th4th5th6th8th2nd5th4th3rd5thx9
 New Zealand 3rd×5th2nd4th×3rd3rd3rd3rd2nd2nd1st1st2nd12
 Papua New Guinea ××4th××××××××××xx1
 Samoa ×4th6th6th××××××××7th7thx5
 Quần đảo Solomon ×××5th1st1st1st1st5th×1st1st2nd3rd1st11
 Tahiti ××××2nd×6th2nd4th4th3rd3rd×2ndx8
 Tonga ×××××××××××8th8th8thx3
 Tuvalu 7th×7th8th×××××x4th4
 Vanuatu 2nd2nd3rd3rd3rd3rd4th4th6th5th4th6th5th6th5th14
Tổng cộng347674788568885

Các giải đấu quốc tế của nữ

[sửa | sửa mã nguồn]
ĐộiTrung Quốc
1991
Thụy Điển
1995
Hoa Kỳ
1999
Hoa Kỳ
2003
Trung Quốc
2007
Đức
2011
Canada
2015
Pháp
2019
ÚcNew Zealand
2023
Brasil
2027
Tổng cộng
 ÚcVBVBVB3
 New ZealandVBVBVBVBVBVBQ7
Tổng cộng (2 đội)111111111110

OFC Nations Cup

[sửa | sửa mã nguồn]
Đội Nouvelle-Calédonie
1983
New Zealand
1986
Úc
1989
Úc
1991
Papua New Guinea
1994
New Zealand
1998
Úc
2003
Papua New Guinea
2007
New Zealand
2010
Papua New Guinea
2014
Nouvelle-Calédonie
2018
Fiji
2022
Fiji
2025
Tổng
 Samoa thuộc Mỹ GS××1
 Úc 2nd2nd3rd2nd1st1st1st7
 Đài Bắc Trung Hoa 1st1st2
 Quần đảo Cook 5th×3rd3rdGSQF8th6
 Fiji 4th4th××GS2nd2nd4th6
 Nouvelle-Calédonie 3rd×4thQF3
 New Zealand 1st3rd2nd1st2nd2nd2nd1st1st1st1st×11
 Papua New Guinea ×5th3rd3rd3rd3rd2nd2nd2nd3rd1st2nd11
 Samoa GS4th×GS4th3rd5
 Quần đảo Solomon 4th4th3rd1st4
 Tahiti ××GSGSQF6th4
 Tonga ×3rdGS4thGSQF7th6
 Vanuatu ××GSGS5th3

Thế vận hội Mùa hè

[sửa | sửa mã nguồn]
Đội1996
Hoa Kỳ
(8)
2000
Úc
(8)
2004
Hy Lạp
(10)
2008
Trung Quốc
(12)
2012
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
(12)
2016
Brasil
(12)
2020
Nhật Bản
(12)
2024
Pháp
(12)
2028
Hoa Kỳ
(12)
2032
Úc
(12)
Số lần
 Úc75Đã gia nhập AFC 2
 New Zealand108912 5
Tổng cộng (2 đội) 01111111 7

Pacific Games

[sửa | sửa mã nguồn]

Kì đại hội
Đội
2003 2007 2011 2015 2019 2023 Số lần
 Samoa thuộc Mỹ PPP94
 Quần đảo Cook PP34105
 Fiji 5 33P326
 Guam 2 P2
 Kiribati 7 1
 Nouvelle-Calédonie P22P35
 Papua New Guinea 1 111116
 Samoa P4244
 Quần đảo Solomon PPPP65
 Tahiti 4 4PP85
 Tonga 3 24PP76
 Vanuatu 6 P53
Số đội
Tổng cộng: 12
7 99710106
Tổng cộng

Giải vô địch bóng đá bãi biển thế giới

[sửa | sửa mã nguồn]
Đội Brasil
1995
Brasil
1996
Brasil
1997
Brasil
1998
Brasil
1999
Brasil
2000
Brasil
2001
Brasil
2002
Brasil
2003
Brasil
2004
Brasil
2005
Brasil
2006
Brasil
2007
Pháp
2008
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
2009
Ý
2011
Polynésie thuộc Pháp
2013
Bồ Đào Nha
2015
Bahamas
2017
Paraguay
2019
Nga
2021
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
2023
Seychelles
2025
Tổng
cộng
 Úc V1 1
 Quần đảo Solomon V1 V1 V1 V1 V1 5
 Tahiti V1 H4 H2 H2 V1 TK 5
Tổng cộng000000000011111121111

Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới

[sửa | sửa mã nguồn]
Đội 2002
Canada
(12)
2004
Thái Lan
(12)
2006
Nga
(16)
2008
Chile
(16)
2010
Đức
(16)
2012
Nhật Bản
(16)
2014
Canada
(16)
2016
Papua New Guinea
(16)
2018
Pháp
(16)
2022
Costa Rica
(16)
2024
Colombia
(24)
2026
Ba Lan
(24)
Số lần
 Úc TKTKVBĐã gia nhập AFC 3
 Fiji VB 1
 Nouvelle-Calédonie Q 1
 New Zealand VBVBVBVBTKVBVBVBVBQ 8
 Papua New Guinea VB 1
Tổng cộng (3 đội) 112111121122 10

Giải vô địch bóng đá U-19 châu Đại Dương

[sửa | sửa mã nguồn]
Đội Tonga
2002
Papua New Guinea
2004
Samoa
2006
New Zealand
2010
New Zealand
2012
New Zealand
2014
Tonga
2015
New Zealand
2017
Quần đảo Cook
2019
Fiji
2023
Polynésie thuộc Pháp
2025
Số lần
 Samoa thuộc Mỹ GS××4th××××GS× 3
 Úc 1st1stThành viên AFC 2
 Quần đảo Cook GS××2nd××××GS4th4th 5
 Fiji GS×GS××××2ndGS2nd3rd 6
 Nouvelle-Calédonie ××GS×3rd×4th4th2ndQF2nd 7
 New Zealand 2nd×1st1st1st1st1st1st1st1st1st 10
 Papua New Guinea ×2nd3rd×2nd2nd×[a]3rdGSGS× 7
 Samoa 4th×4th×4th×2nd5thGS3rd 8
 Quần đảo Solomon ×3rdGS×××××GSQF 4
 Tahiti ××××××××3rdQF6th 3
 Tonga 3rd×2nd3rd×3rd5th6thGSGS5th 9
 Vanuatu ××GS××4th3rd×4thQFGS 6

Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới

[sửa | sửa mã nguồn]
Đội 2008
New Zealand
(16)
2010
Trinidad và Tobago
(16)
2012
Azerbaijan
(16)
2014
Costa Rica
(16)
2016
Jordan
(16)
2018
Uruguay
(16)
2022
Ấn Độ
(16)
2024
Cộng hòa Dominica
(16)
2025
Maroc
(24)
2026
Maroc
(24)
Số lần
 New Zealand R1R1R1R1R13rdR1R1R1Q 10
 Samoa ×××××R1Q 2
Tổng cộng (2 đội) 1111111122 12

Giải vô địch bóng đá U-16 châu Đại Dương

[sửa | sửa mã nguồn]
Đội New Zealand
2010
New Zealand
2012
Quần đảo Cook
2016
Samoa
2017
Polynésie thuộc Pháp
2023
Fiji
2024
Samoa
2025
Số lần
 Samoa thuộc Mỹ x××GSxxH8 2
 Quần đảo Cook x3rdGSBKH6H8x 5
 Fiji x×3rdBK2ndH6H6 4
 Nouvelle-Calédonie ×4th4th2ndH54th3rd 6
 New Zealand 1st1st1st1st1st1st1st 7
 Papua New Guinea 3rd2nd2nd×xxx 3
 Samoa 4th×GSGSx2nd2nd 5
 Quần đảo Solomon 2nd3rdx×H7H64th 5
 Tahiti ×××GS3rdH7H7 4
 Tonga 4th×GSGS4th3rdH5 5
 Vanuatu ××GS×xxH8 2

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. "Oceania Football Confederation – OFC Home". Oceania Football Confederation. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2022.
  2. "The history of football in Australia | Football Australia". ngày 14 tháng 6 năm 2021.
  3. "Sh - Ofc". Sportshistory.club. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2022.
  4. 1 2 3 4 Routledge Handbook of Football Studies. (2016). United Kingdom: Taylor & Francis.
  5. A Dictionary of Sports Studies (bằng tiếng Anh). ISBN 019921381X.
  6. An Encyclopaedia of New Zealand. (1966). New Zealand: R. E. Owen, Government printer.
  7. OFC History oceaniafootball.com
  8. "Oceania admit Taiwan and Aussies quit". The Straits Times. Reuters, UPI. ngày 1 tháng 3 năm 1976.
  9. Soft Power Politics - Football and Baseball on the Western Pacific Rim. (2017). United Kingdom: Taylor & Francis.
  10. "Soccer: Australia upbeat despite loss to Brazil". New Zealand Herald. ngày 16 tháng 8 năm 2023. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2025.
  11. "All Whites' results". nzhistory.govt.nz.
  12. , F. P., Vandome, A. F., McBrewster, J. (2009). 2010 Fifa World Cup. Germany, VDM Publishing.
  13. The Business of the FIFA World Cup. (2022). United Kingdom: Taylor & Francis.
  14. "World Cup play-offs to be one-off ties". ngày 19 tháng 11 năm 2021.
  15. "FIFA Congress". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2017.
  16. "Looking back: The OFC Nations Cup 2002". ngày 13 tháng 7 năm 2020.
  17. "Results, Oceanian Zone". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2022.
  18. "Oceanian Nations Cup 1998".
  19. "Oceanian Nations Cup 2000".
  20. "Oceania's Women's Championship 1998 (Auckland, New Zealand)". www.rsssf.org.
  21. "Only eleven for the Aussies this time". The Irish Times.
  22. "Watch: Australia 31-0 American Samoa, 20 years on". Socceroos. ngày 11 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2022.
  23. "American Samoa finally get 17-year monkey off their back". Irish Independent. ngày 26 tháng 11 năm 2011.
  24. "Socceroos promised blanket security". ngày 10 tháng 11 năm 2005.
  25. Baum, Greg (ngày 18 tháng 11 năm 2005). "The other, two-faced Australia". The Age.
  26. "FFA to announce plan to bid for 2018". The Sydney Morning Herald. ngày 21 tháng 7 năm 2006.
  27. "AUSTRALIAN MOVE INTO ASIA CONFIRMED". ngày 11 tháng 7 năm 2005.
  28. "Australia gets President's blessing to join AFC in 2006". www.abc.net.au. ngày 16 tháng 6 năm 2005.
  29. "Everything you need to know about the 2023 FIFA Women's World Cup". Forbes Australia. ngày 11 tháng 7 năm 2023.
  30. "Regarding the agenda/ decisions of the 29th EAFF Executive Committee Meeting". Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2012.
  31. "Beautiful outcomes at ugly Cup". Stuff. ngày 30 tháng 12 năm 2010.
  32. Lutz, Tom (ngày 20 tháng 11 năm 2013). "World Cup play-off: New Zealand v Mexico – as it happened". The Guardian.
  33. Winehouse, Amitai. "Costa Rica qualify for 2022 World Cup". The Athletic (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2022.
  34. "Hay quits as New Zealand coach after World Cup miss". Reuters (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2022.
  35. "New Zealand deny New Caledonia to reach 2026 World Cup". The Guardian. ngày 24 tháng 3 năm 2025.
  36. 1 2 3 "The age of amateurism in Pacific soccer set to end with the start of the OFC Pro-League in just over a year's time". ABC Pacific. ngày 12 tháng 12 năm 2024.
  37. "Interest growing as more clubs attend briefings for OFC Professional League". Friends of Football. ngày 4 tháng 2 năm 2025.
  38. "Football licences hard to come by, hard to keep". RNZ. ngày 6 tháng 3 năm 2025.
  39. "Second Aus side goes public on bid to join Oceania football league". Herald Sun.
  40. 1 2 "South Melbourne eye spot in new OFC Pro League". ESPN.com. ngày 5 tháng 3 năm 2025.
  41. McKay, Ben (ngày 14 tháng 2 năm 2025). "Australia poised to join new Pacific soccer league". www.westernadvocate.com.au.
  42. "OFC share more details of Professional League as expressions of interest open". Friends of Football. ngày 11 tháng 2 năm 2025.
  43. Mathieson, Andrew (ngày 29 tháng 11 năm 2024). "Oceania Football Confederation set to launch the Pacific Football League within next two years". National Indigenous Times.
  44. "Oceania professional league set to kick off next year". The National. ngày 26 tháng 3 năm 2025.
  45. Smith, Tony (ngày 29 tháng 1 năm 2025). "NZclubstoget update on Oceania Pro competition". The Press.
  46. "Auckland City 'will not participate in OFC Professional League in any capacity'". Friends of Football. ngày 5 tháng 3 năm 2025.
  47. "Teams invited to apply for OFC pro-league spots ahead of 2026 kick-off". RNZ. ngày 12 tháng 2 năm 2025.
  48. Smith, Tony (ngày 12 tháng 2 năm 2025). "Oceania Football Confederation wants 'best eight teams' in new men's Pro League". The Post.
  49. "Từ điên nghiên cứu thể thao".
  50. "OFC History".
  51. Reuters, UPI. The Straits Times (ngày 1 tháng 3 năm 1976.). ""Oceania admit Taiwan and Aussies quit"". {{Chú thích web}}: |last= có tên chung (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  52. "FIFA". fifa.com. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2019.
  53. "Archived from the original". Archive. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2012.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  54. http://www.oceaniafootball.com/ofc/MemberAssociations/tabid/1016/language/en-US/Default.aspx
  55. "National Olympic committees".
  56. "«Acerca de la Asociación»". ngày 30 tháng 6 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 11 năm 2017.
  57. Asianoceanianfootball (tháng 3 năm 2017). "Were slowly gaining interest interview with palau football association pfa president charles mitchell".

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Papua New Guinea did not compete in 2015, as they had already qualified for the 2016 FIFA U-20 Women's World Cup as hosts.
Lỗi chú thích: Tồn tại thẻ <ref> cho nhóm chú thích với tên "lower-alpha", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="lower-alpha"/> tương ứng